Hiện nay trên thế giới cũng như Việt Nam đã cởi mở hơn về cách nhìn nhận đối với người thuộc cộng đồng LGBT, họ không còn bị coi là một người “mắc bệnh” trong xã hội nữa, cơ hội đến với họ cũng đều như đến với mỗi chúng ta. Đồng tình ở đây là sự cởi mở đã có, thế nhưng việc công nhận họ thì sao? Pháp luật Việt Nam có cái nhìn như thế nào về vấn đề này? Hãy cùng Luật Hồng Thái tìm hiểu để bảo vệ quyền và lợi ích của mình một cách chính đáng nhé!

Theo quy định pháp luật
hiện hành, Luật Hôn nhân và Gia đình 2014, cụ thể tại điều 5 như sau:
"Điều 5. Bảo vệ chế độ hôn nhân và gia đình
1. Quan hệ hôn nhân và gia đình được
xác lập, thực hiện theo quy định của Luật này được tôn trọng và được pháp luật
bảo vệ.
2. Cấm các hành vi sau đây:
a) Kết hôn giả tạo, ly hôn giả tạo;
b) Tảo hôn, cưỡng ép kết hôn, lừa dối
kết hôn, cản trở kết hôn;
c) Người đang có vợ, có chồng mà kết
hôn hoặc chung sống như vợ chồng với người khác hoặc chưa có vợ, chưa có chồng
mà kết hôn hoặc chung sống như vợ chồng với người đang có chồng, có vợ;
d) Kết hôn hoặc chung sống như vợ chồng
giữa những người cùng dòng máu về trực hệ; giữa những người có họ trong phạm vi
ba đời; giữa cha, mẹ nuôi với con nuôi; giữa người đã từng là cha, mẹ nuôi với
con nuôi, cha chồng với con dâu, mẹ vợ với con rể, cha dượng với con riêng của
vợ, mẹ kế với con riêng của chồng;
đ) Yêu sách của cải trong kết hôn;
e) Cưỡng ép ly hôn, lừa dối ly hôn,
cản trở ly hôn;
g) Thực hiện sinh con bằng kỹ thuật
hỗ trợ sinh sản vì mục đích thương mại, mang thai hộ vì mục đích thương mại, lựa
chọn giới tính thai nhi, sinh sản vô tính;
h) Bạo lực gia đình;
i) Lợi dụng việc thực hiện quyền về
hôn nhân và gia đình để mua bán người, bóc lột sức lao động, xâm phạm tình dục
hoặc có hành vi khác nhằm mục đích trục lợi.
3. Mọi hành vi vi phạm pháp luật về
hôn nhân và gia đình phải được xử lý nghiêm minh, đúng pháp luật.
Cơ quan, tổ chức, cá nhân có quyền
yêu cầu Tòa án, cơ quan khác có thẩm quyền áp dụng biện pháp kịp thời ngăn chặn
và xử lý người có hành vi vi phạm pháp luật về hôn nhân và gia đình.
4. Danh dự, nhân phẩm, uy tín, bí mật
đời tư và các quyền riêng tư khác của các bên được tôn trọng, bảo vệ trong quá
trình giải quyết vụ việc về hôn nhân và gia đình."
Như vậy, pháp luật Việt
Nam hiện hành không cấm những người đồng giới kết hôn với nhau, thế nhưng về việc
công nhận cuộc kết hôn đó, hiện pháp luật Việt Nam chưa công nhận, cụ thể quy định
tại điều 8 như sau:
“Điều 8. Điều kiện kết hôn
1. Nam, nữ kết hôn với nhau phải
tuân theo các điều kiện sau đây:
a) Nam từ đủ 20 tuổi trở lên, nữ từ
đủ 18 tuổi trở lên;
b) Việc kết hôn do nam và nữ tự nguyện
quyết định;
c) Không bị mất năng lực hành vi dân
sự;
d) Việc kết hôn không thuộc một
trong các trường hợp cấm kết hôn theo quy định tại các điểm a, b, c và d khoản
2 Điều 5 của Luật này.
2. Nhà nước không thừa nhận hôn nhân
giữa những người cùng giới tính.”
Thông tin
liên hệ: CÔNG TY LUẬT HỒNG THÁI
- Địa chỉ: LK 9-38 Tổng cục 5, phường Thanh Liệt,
TP. Hà Nội
- Hotline: 0962.893.900 / 0982.033.335
- Email: luathongthai@gmail.com
Luật Hồng
Thái – Điểm tựa pháp lý vững chắc, bảo vệ quyền lợi hợp pháp của bạn trong mọi
biến động thị trường!
Hy vọng bài
viết trên đã cung cấp cho bạn cái nhìn tổng quan và chính xác nhất về quy trình
hậu phá sản. Nếu bạn đang gặp vướng mắc về pháp lý, hãy tham khảo ý kiến từ các
luật sư chuyên môn.