Giả định Bà N xuất cảnh bất hợp pháp sang nước ngoài, hiện mang quốc tịch nước ngoài có được hưởng thừa kế tài sản, như đất đai (bất động sản) hay từ chối nhận di sản thừa kế không?
I. Căn cứ pháp lý
- Luật đất đai 2013
- Luật dân sự 2015
II. Nội dung tư vấn
Theo quy định tại Bộ luật Dân sự 2015, thừa kế là một quyền cơ bản của mỗi công dân và là việc chuyển dịch tài sản của người đã chết cho người còn sống, tài sản để lại được gọi là di sản. Mọi cá nhân đều có quyền hưởng di sản theo di chúc hoặc theo pháp luật, bao gồm người Việt Nam định cư ở nước ngoài. Di sản thừa kế là đất đai (bất động sản) - là loại tài sản đặc biệt nên theo quy định của pháp luật Việt Nam, người Việt Nam định cư ở nước ngoài vẫn có thể được hưởng thừa kế tài sản của cha mẹ họ để lại tại Việt Nam. Tuy nhiên, việc có được đứng tên trên giấy chứng nhận quyền sử dụng đất này hay không, phải xét đến quy định pháp luật đất đai của Việt Nam về vấn đề này.
Đối với trường hợp cụ thể của bà N đã xuất cảnh bất hợp pháp sang nước ngoài, hiện mang quốc tịch nước ngoài và không thuộc đối tượng được cấp giấy chứng nhận quyền sử dụng đất theo quy định của pháp luật, phần thừa kế của bà N được giải quyết như sau:
Căn cứ vào khoản 3, khoản 4 Điều 186 Luật Đất đai năm 2013:
''3. Trường hợp tất cả người nhận thừa kế quyền sử dụng đất, quyền sở hữu nhà ở, tài sản khác gắn liền với đất đều là người nước ngoài hoặc người Việt Nam định cư ở nước ngoài không thuộc đối tượng được mua nhà ở gắn liền với quyền sử dụng đất ở tại Việt Nam quy định tại khoản 1 Điều này thì người nhận thừa kế không được cấp Giấy chứng nhận quyền sử dụng đất, quyền sở hữu nhà ở và tài sản khác gắn liền với đất nhưng được chuyển nhượng hoặc được tặng cho quyền sử dụng đất thừa kế theo quy định sau đây:
a) Trong trường hợp chuyển nhượng quyền sử dụng đất thì người nhận thừa kế được đứng tên là bên chuyển nhượng trong hợp đồng chuyển nhượng quyền sử dụng đất;
b) Trong trường hợp tặng cho quyền sử dụng đất thì người được tặng cho phải là đối tượng được quy định tại điểm e khoản 1 Điều 179 của Luật này và phù hợp với quy định của pháp luật về nhà ở, trong đó người nhận thừa kế được đứng tên là bên tặng cho trong hợp đồng hoặc văn bản cam kết tặng cho;
c) Trong trường hợp chưa chuyển nhượng hoặc chưa tặng cho quyền sử dụng đất thì người nhận thừa kế hoặc người đại diện có văn bản ủy quyền theo quy định nộp hồ sơ về việc nhận thừa kế tại cơ quan đăng ký đất đai để cập nhật vào Sổ địa chính.
4. Trường hợp trong số những người nhận thừa kế có người Việt Nam định cư ở nước ngoài không thuộc đối tượng được mua nhà ở gắn liền với quyền sử dụng đất ở tại Việt Nam còn những người khác thuộc diện được nhận thừa kế quyền sử dụng đất theo quy định của pháp luật về đất đai mà chưa phân chia thừa kế quyền sử dụng đất cho từng người nhận thừa kế thì những người nhận thừa kế hoặc người đại diện có văn bản ủy quyền theo quy định nộp hồ sơ về việc nhận thừa kế tại cơ quan đăng ký đất đai để cập nhật vào sổ địa chính.
Sau khi giải quyết xong việc phân chia thừa kế thì cấp Giấy chứng nhận quyền sử dụng đất, quyền sở hữu nhà ở và tài sản khác gắn liền với đất cho người thuộc đối tượng được cấp Giấy chứng nhận quyền sử dụng đất, quyền sở hữu nhà ở và tài sản khác gắn liền với đất; đối với người Việt Nam định cư ở nước ngoài không thuộc đối tượng được mua nhà ở gắn liền với quyền sử dụng đất ở tại Việt Nam thì phần thừa kế được giải quyết theo quy định tại khoản 3 Điều này.''
Như vậy, trường hợp này bà N vẫn được quyền chuyển nhượng hoặc tặng cho quyền sử dụng đất thừa kế mặc dù bà N không đủ điều kiện được cấp giấy chứng nhận quyền sử dụng đất khi chia di sản thừa kế. Và việc tặng cho hoặc chuyển nhượng quyền sử dụng đất thừa kế phải tuân theo các quy định nêu trên.