1. Căn cứ pháp lý
2. Nội dung.
Ngoại tình được coi là vấn đề luôn luôn nhức nhối trong xã hội nói chung và đặc biệt trong hôn nhân giữ các cặp vợ chồng. Thời gian qua trên một số phương tiện truyền thông đa đăng tải những nội dung mang tính chất phổ biến pháp luật liên quan đến quy định nội dung về tội “vi phạm chế độ một vợ, một chồng”.
Điều 182 Bộ luật hình sự 2015 quy định quy định nội dung về tội “vi phạm chế độ một vợ, một chồng” như sau:
“1. Người nào đang có vợ, có chồng mà kết hôn hoặc chung sống như vợ chồng với người khác hoặc người chưa có vợ, chưa có chồng mà kết hôn hoặc chung sống như vợ chồng với người mà mình biết rõ là đang có chồng, có vợ thuộc một trong các trường hợp sau đây, thì bị phạt cảnh cáo, phạt cải tạo không giam giữ đến 01 năm hoặc phạt tù từ 03 tháng đến 01 năm:
a) Làm cho quan hệ hôn nhân của một hoặc hai bên dẫn đến ly hôn;
b) Đã bị xử phạt vi phạm hành chính về hành vi này mà còn vi phạm.
2. Phạm tội thuộc một trong các trường hợp sau đây, thì bị phạt tù từ 06 tháng đến 03 năm:
a) Làm cho vợ, chồng hoặc con của một trong hai bên tự sát;
b) Đã có quyết định của Tòa án hủy việc kết hôn hoặc buộc phải chấm dứt việc chung sống như vợ chồng trái với chế độ một vợ, một chồng mà vẫn duy trì quan hệ đó.”
Theo đó, điều luật này quy định nhằm bảo vệ chế độ hôn nhân một vợ một chồng đã được quy định tại Hiến pháp Việt Nam và Luật hôn nhân và gia đình năm 2014.
Như vậy, người “ngoại tình” sẽ chỉ bị xử phạt khi có đầy đủ các dấu hiệu sau:
Thứ nhất: phải có ít nhất một trong hai bên phải đang có vợ hoặc chồng. Nếu cả 2 bên cùng chưa có vợ hoặc chồng mà chung sống với nhau thì không bị coi là vi phạm. Trường hợp người chưa có vợ hoặc chồng chỉ phạm tội khi người đó “biết rõ” người mà mình chung sống hoặc kết hôn đang có vợ hoặc chồng.
Như vậy phải có sự chung sống như vợ chồng. Không chung sống như vợ chồng thì không được coi là có hành vi vi pham. Chung sống như vợ chồng là việc nam, nữ tổ chức cuộc sống chung và coi nhau như vợ chồng, việc chung sống có thể công khai hoặc không công khai nhưng cùng sinh hoạt chung như một gia đình. Việc chung sống như vợ chồng thường được chứng minh bằng việc có con chung, được hàng xóm và xã hội xung quanh coi như vợ chồng, có tài sản chung đã được gia đình cơ quan, đoàn thể giáo dục mà vẫn tiếp tục duy trì quan hệ đó... (Thông tư số 01/2001/TTLT/BTP-BCA-TANDTC-VKSNDTC)

CÔNG TY LUẬT TNHH QUỐC TẾ HỒNG THÁI VÀ ĐỒNG NGHIỆP TRÂN TRỌNG!
Để có ý kiến tư vấn chính xác và cụ thể hơn, Quý vị vui lòng liên hệ với các Luật sư chuyên gia của Công ty Luật TNHH Quốc tế Hồng Thái và Đồng Nghiệp qua Tổng đài tư vấn pháp luật 19006248 hoặc E-mail: luathongthai@gmail.com
Trụ sở chính:
LK9-38 Tổng cục 5, Tân Triều, Hà Nội (cuối đường Chiến Thắng, Thanh Xuân)
Có thể bạn quan tâm: