Hotline: 098.203.3335
TRANH TỤNG - TỐ TỤNG HÌNH SỰ - DÂN SỰ - HÀNH CHÍNH - ĐẤT ĐAI - HÔN NHÂN GIA ĐÌNH
 

ĐOÀN LUẬT SƯ THÀNH PHỐ HÀ NỘI
CÔNG TY LUẬT TNHH QUỐC TẾ HỒNG THÁI VÀ ĐỒNG NGHIỆP


Trụ sở chính:
Trụ sở chính: LK 9-38 Tổng cục 5, phường Thanh Liệt, TP. Hà Nội

098 203 3335 (24/7)
luathongthai@gmail.com

Chồng bí mật vay tín dụng đen cá độ: Vợ có phải trả nợ cùng khi ly hôn không?

(Số lần đọc 358)
Trong bối cảnh các ứng dụng vay tiền nhanh và “tín dụng đen” phát triển tràn lan, nhiều gia đình rơi vào khủng hoảng vì một bên tự ý vay tiền để cá độ bóng đá. Khi hôn nhân đổ vỡ, câu hỏi khiến nhiều người lo lắng là: Khoản nợ đó có bị coi là nợ chung và buộc vợ phải trả khi ly hôn không?


Quy định về quan hệ giữa vợ và chồng trong Luật Hôn nhân và gia đình

Theo quy định của pháp luật Việt Nam, không phải khoản nợ nào phát sinh trong thời kỳ hôn nhân cũng là nợ chung. Để một khoản nợ được coi là nghĩa vụ chung của vợ chồng, nó phải thuộc một trong các trường hợp quy định tại Điều 37 Luật Hôn nhân và Gia đình 2014:

Điều 37. Nghĩa vụ chung về tài sản của vợ chồng

Vợ chồng có các nghĩa vụ chung về tài sản sau đây:

1. Nghĩa vụ phát sinh từ giao dịch do vợ chồng cùng thỏa thuận xác lập, nghĩa vụ bồi thường thiệt hại mà theo quy định của pháp luật vợ chồng cùng phải chịu trách nhiệm;

2. Nghĩa vụ do vợ hoặc chồng thực hiện nhằm đáp ứng nhu cầu thiết yếu của gia đình;

3. Nghĩa vụ phát sinh từ việc chiếm hữu, sử dụng, định đoạt tài sản chung;

4. Nghĩa vụ phát sinh từ việc sử dụng tài sản riêng để duy trì, phát triển khối tài sản chung hoặc để tạo ra nguồn thu nhập chủ yếu của gia đình;

5. Nghĩa vụ bồi thường thiệt hại do con gây ra mà theo quy định của Bộ Luật dân sự thì cha mẹ phải bồi thường;

6. Nghĩa vụ khác theo quy định của các luật có liên quan.

Vay “tín dụng đen” để cá độ có phải nghĩa vụ chung?

Trước hết, cá độ bóng đá không phải là nhu cầu thiết yếu của gia đình. Nhu cầu thiết yếu được hiểu là các chi phí phục vụ đời sống bình thường như ăn uống, học tập, chữa bệnh, sinh hoạt. Cá độ là hành vi mang tính cá nhân, thậm chí có thể vi phạm pháp luật, nên không thể xem là phục vụ lợi ích chung.

Thứ hai, nếu người vợ không biết và không đồng ý việc vay tiền, không ký tên, không bảo lãnh và không có bằng chứng thể hiện sự chấp thuận, thì giao dịch đó là hành vi đơn phương của người chồng. Theo Điều 45 Luật Hôn nhân và Gia đình 2014, nghĩa vụ phát sinh từ giao dịch do một bên xác lập mà không vì nhu cầu gia đình là nghĩa vụ riêng của người đó.

Điều 45. Nghĩa vụ riêng về tài sản của vợ, chồng

Vợ, chồng có các nghĩa vụ riêng về tài sản sau đây:

1. Nghĩa vụ của mỗi bên vợ, chồng có trước khi kết hôn;

2. Nghĩa vụ phát sinh từ việc chiếm hữu, sử dụng, định đoạt tài sản riêng, trừ trường hợp nghĩa vụ phát sinh trong việc bảo quản, duy trì, tu sửa tài sản riêng của vợ, chồng theo quy định tại khoản 4 Điều 44 hoặc quy định tại khoản 4 Điều 37 của Luật này;

3. Nghĩa vụ phát sinh từ giao dịch do một bên xác lập, thực hiện không vì nhu cầu của gia đình;

4. Nghĩa vụ phát sinh từ hành vi vi phạm pháp luật của vợ, chồng.

Cuối cùng, Tòa án sẽ xem xét mục đích sử dụng thực tế của khoản tiền vay. Nếu không có chứng cứ chứng minh tiền được dùng để chi tiêu chung, mua sắm tài sản gia đình, đóng học phí cho con hoặc phục vụ sinh hoạt, thì rất khó để xác định đó là nợ chung.

Khi ly hôn, Tòa án xử lý khoản nợ thế nào?

Khi giải quyết ly hôn, Tòa án sẽ tiến hành:

-        Xác minh người đứng tên vay;

-        Làm rõ mục đích vay tiền;

-        Đánh giá có hay không sự đồng thuận của người vợ;

-        Xem xét việc sử dụng tiền vay có phục vụ lợi ích gia đình hay không.

Nếu không đủ căn cứ xác định là nghĩa vụ chung, Tòa án sẽ không buộc người vợ liên đới trả nợ. Chủ nợ, kể cả “tín dụng đen”, có nghĩa vụ chứng minh đây là khoản vay chung nếu muốn yêu cầu cả hai vợ chồng cùng thanh toán.

Khoản vay “tín dụng đen” có được bảo vệ không?

Theo Điều 468 Bộ luật Dân sự 2015, lãi suất vay không được vượt quá mức trần do pháp luật quy định. Phần lãi vượt quá sẽ không có hiệu lực. Trong trường hợp cho vay lãi nặng, bên cho vay còn có thể bị xử lý theo Bộ luật Hình sự 2015.

Điều này có nghĩa là không phải mọi yêu cầu đòi nợ đều hợp pháp, và người vợ càng không thể bị ép buộc trả khoản vay trái pháp luật nếu đó không phải nghĩa vụ chung.

Kết luận:  Như vậy, Theo quy định của Luật Hôn nhân và Gia đình 2014, khoản vay do chồng bí mật thực hiện để cá độ, không có sự đồng ý của vợ và không phục vụ nhu cầu thiết yếu của gia đình, về nguyên tắc được xác định là nghĩa vụ tài sản riêng của chồng. Khi ly hôn, người vợ không phải liên đới trả nợ nếu không có căn cứ chứng minh đây là nghĩa vụ chung. Việc xác định đúng bản chất khoản nợ sẽ quyết định trực tiếp đến quyền và nghĩa vụ của các bên trước Tòa án.

Mời bạn đánh giá bài viết này!
Đặt câu hỏi
Báo giá vụ việc
Đặt lịch hẹn

Có thể bạn quan tâm?

Cưỡng chế đối với tài sản thuộc sở hữu chung
Các biện pháp bảo đảm thi hành án
Tạm đình chỉ thi hành án
Nghĩa vụ của Bên cung ứng dịch vụ
Công ty Luật Hồng Thái là một đơn vị hàng đầu trong việc giải quyết các tranh chấp dân sự.
Quy định về nghĩa vụ cung cấp thông tin thi hành án
Công ty Luật Hồng Thái là một đơn vị Luật hàng đầu trong lĩnh vực thi hành án, xác minh điều kiện thi hành án và xử lý thi hành án hiệu quả.
Thủ tục tố tụng dân sự được tòa án cấp sơ thẩm áp dụng trong trường hợp đương đương sự chết mà quyền và nghĩa vụ của họ được thừa kế.
trả lại đơn khởi kiện
Các quy định của pháp luật tố tụng dân sự hiện hành về thụ lý vụ án dân sự
Trách nhiệm bồi thường của người giám hộ
Người có quyền kháng cáo, kháng nghị theo thủ tục phúc thẩm dân sự
Đối tượng kháng cáo, kháng nghị theo thủ tục phúc thẩm bao gồm: - Bản án sơ thẩm chưa có hiệu lực pháp luật. - Quyết định tạm đình chỉ, quyết định đình chỉ giải quyết vụ án của Toàn án sơ thẩm chưa có hiệu lực. Vậy ai là người có quyền kháng cáo, kháng nghị.
 
Tin nhiều người quan tâm
Nguyên nhân, thực trạng ly hôn hiện nay và đưa ra giải pháp hạn chế thực trạng này.
Hôn nhân là cơ sở của gia đình và gia đình là tế bào của xã hội mà trong đó kết hợp hài hòa lợi ích...
 
Quy trình xử phạt vi phạm hành chính về giao thông đường bộ
Bởi nhiều trường hợp công an lợi dụng người vi phạm không biết luật nên “hét giá” mức phạt gấp 3-4...
 
Thay đổi vật liệu chính, sau khi đã đấu thầu, ký hợp đồng
Sau khi 2 bên là chủ đầu tư và nhà thầu đã hoàn tất việc ký kết hợp đồng cũng như chọn gói thầu xong...
 
BẮT BUỘC XÁC THỰC TÀI KHOẢN MẠNG XÃ HỘI BẰNG SỐ ĐIỆN THOẠI TỪ 25/12/2024?
Nghị định 147/2024/NĐ-CP chính thức có hiệu lực từ ngày 25/12/2024. Tại Điểm e khoản 3 Điều 23 Nghị...
 
Người vay tín dụng đã chết, nhưng bảo hiểm không chi trả khoản vay ?
Vay tín dụng hiện nay hiện nay không còn là khái niệm xa lạ với nhiều người, thủ tục nhanh gọn,...
 

Thư viện video

Dành cho đối tác

Giới thiệu

Về chúng tôi

Công ty luật Quốc Tế Hồng Thái và Đồng Nghiệp – Nơi các luật sư, chuyên gia tư vấn có trình độ cao, có kinh nghiệm nhiều năm trong các lĩnh vực tư vấn đầu tư, thuế – kế toán, sở hữu trí tuệ, tố tụng, lao động, đất đai…đảm nhiệm.

Kinh tế đang phát triển, xã hội có sự phân công lao động rõ ràng. Và chúng tôi hiện diện trong cộng đồng doanh nghiệp để đồng hành, chia sẻ, gánh vác và hỗ trợ các doanh nghiệp.

Chi tiết→

CÁC CHUYÊN VIÊN TƯ VẤN CỦA CHÚNG TÔI

luôn sẵn sàng hỗ trợ bạn

Thạc Sĩ, Luật Sư Nguyễn Thị Hồng Liên
Giám đốc Công ty Luật TNHH Quốc tế Hồng Thái và Đồng nghiệp


GS. TS. LS. Nguyễn Hồng Thái
Tiến sĩ - Luật sư tranh tụng hình sự, dân sự
Phó giám đốc Công ty Luật TNHH Quốc tế Hồng Thái và Đồng nghiệp

LS. ThS. Trần Anh Minh
Luật sư tranh tụng Dân sự, Hình sự 


Luật Sư Nguyễn Văn Diên
Tư vấn pháp luật đất đai

Luật Sư Nguyễn Thị Tình
Luật sư tranh tụng Dân sự, Hình sự

Luật sư Phạm Thị Vân

Luật sư đất đai, doanh nghiệp, lao động


Luật Sư Lê Ngọc Trung
Luật Sư Tranh Tụng Doanh Nghiệp

LG. ThS luật Phạm Tuấn Anh   
Hình sự, Dân sự, Hôn nhân gia đình, Lao động, Đất đai,…


 



Chuyên viên Đàm Văn Long

Chuyên viên Triệu Quang Trường
Copyright © 2014-2018 All Rights Reserved - luathongthai.com
Design by and support ThanhNam Software